$ today_i_learn
Biển học vô cùng
ˈɡlæm(ə)rəs
“My darling is one of the most glamorous women”
“Vợ tôi là một trong những người phụ nữ quyến rũ nhất hành tinh :))”
Nhưng dòng điện lại đi từ dương (+) sang âm (-). Đó là do vào năm 1750 Benjamin Franklin đã chọn đại hướng dòng điện như vậy. 🤷♂️
thường dùng để ám chỉ cho cả nhóm, đối lập với cá nhân individually. Đọc là kəˈlɛktəvli.
“The instruction codes that are stored in memory are often referred to collectively as code, and everything else as data.”
“Mã lệnh lưu trong bộ nhớ thường được nhắc chung là code, và mọi thứ khác là dữ liệu.”
có thể là danh từ dịch là ngoại vi. Đọc là pəˈrɪf(ə)rəl.
“Computers also include several input and output (I/O) devices, often call peripherals.”
“Máy tính cũng bao gồm vài loại thiết bị đầu vào và đầu ra (I/O), thường gọi là thiết bị ngoại vi.”
chỉ điều gì đó không chính xác, kiểu hườm hườm. Đọc là ˈrəfli.
“But they can roughly be divided into three categories:”
“Nhưng chúng có thể được chia tương đối (tạm) thành 3 loại:”
rất nhiều, không đếm được. Đọc là ˈmɪriəd.
“The modern computer is a complex assemblage of myriad components.”
“Máy tính hiện đại là một tập hợp phức tạp của vô số linh kiện.”
,influ'en∫əl có ảnh hưởng, có sức thuyết phục.
Ví dụ: “Steve Jobs was influential in technology.”
=> “Steve Jobs có tầm ảnh hưởng lớn lao đến công nghệ.”
Ở Mỹ thời Chiến tranh lạnh, lúc bấy giờ nỗi sợ Cộng Sản lan rộng với việc Liên Xô vừa cho nổ bom nguyên tử đầu tiên (1949). Nước Mỹ gắt gao tìm kiếm gián điệp để làm dịu đi sự yếu thế của mình.
Julius Rosenberg bị tình nghi tuồn thông tin bí mật cho Liên Xô. Ethel Rosenberg, vợ ông cũng lây theo dù chưa có bằng chứng rõ ràng. Cả 2 bị xét xử công khai rồi bị xử tử bằng ngồi ghế điện vào năm 1953.
Băn khoăn để chỉ trong lòng còn nhiều suy nghĩ chưa yên, phân vân chưa biết chọn điều gì còn bâng khuâng thiên về cảm xúc luyến tiếc, ngẩn ngơ, buồn nhớ không rõ ràng. Ví dụ:
“Tôi đang băn khoăn không biết nên làm gì với chiếc Macbook hư này.”
“Từ dạo xa cách, chiều nào con nhỏ cũng ngồi bâng khuâng bên hiên nhà.”
mang nghĩa là ngõ cụt, cả đen và bóng. Ví dụ khi đang đi trên đường thì thấy cuối đường bị chặn không còn đi được nữa thì là ngõ cụt hoặc khi một tình huống hay vấn đề gì không còn tiến triển hay đi xa hơn được nữa thì đó cũng là ngõ cụt. Ví dụ khi mình dịch sách Code:
“I’m afraid we must regard the Triple-Byte Accumulator as a dead end.”
“Tôi e là ta phải xem Bộ tích luỹ 3-Byte như là một ngõ cụt (điểm cuối).”
Nghĩa là không thể mở rộng hay cải tiến gì thêm với Bộ tích luỹ này nữa rồi.
lan toả, và đậm mùi. Dùng khi miêu tả một mùi nồng nàn bay vào mũi làm bạn nhận ra ngay. Cảm xúc hơi không phải khen lắm mà kiểu bất ngờ và ấn tượng. Ví dụ như:
“Tôi bước ngay vào nhà vệ sinh liền sau khi vợ đi ra là mũi ngửi sực nức mùi cứ*!”
dưới local có thể chạy bình thường nhưng khi deploy nếu chỉ chạy lệnh kamal deploy thì server vẫn chạy phiên bản Ruby cũ. Để cập nhật phiên bản mới trên server giống với local thì cần sửa mục:
# deploy.yml
builder:
arch: amd64
args:
RUBY_VERSION: 4.0.0 <~~ Sửa thành phiên bản mới
# Dockerfile
ARG RUBY_VERSION=4.0.0 <~~ Sửa thành phiên bản mới
Sau đó chạy lệnh kamal deploy --no-cache để build lại image mới và deploy app. Nguyên lý của Kamal là build Docker image → push lên registry → server pull về chạy. Server khi deploy hay dùng bản cache cho lẹ, nên buộc mình phải chạy --no-cache để build bản mới.
Trong quá trình chạy có thể sẽ gặp vài gem không hỗ trợ Ruby mới (4) thì bạn phải tự cài tay lại (bằng bundle update [tên gem]). Trường hợp của mình là gem ffi (1.17.4) và pg (1.6.3).
nghe không rõ, tỏ ý bất bình, không bằng lòng. Kiểu như muốn rên, rủa ai đó nhưng không dám nói to mà chỉ nhí nhí trong miệng.
“Mày còn đứng đó lầm bầm tao cho ăn thêm cán chổi nghe chưa!”
Trên là câu ví dụ mà hồi xưa tôi hay nghe mẹ nói lắm.
Tôi cóp nhặt những từ vựng này để làm giàu tiếng mẹ đẻ trong tôi rồi viết và lan truyền tới những ai đọc được. Chào mừng bài đầu tiên của chuyên mục Mỗi ngày một kiến thức (Today I learn).